Bi mtuôm wăt blŭ hrăm 21/10/2026 – Ama Mil Čhil Lêô XIV: Găp djuê sang jing “phŭn gơ̆ng kơ yang ƀuôn”

Tiếp kiến chung 21/10/2026 – ĐTC Lêô XIV: Gia đình là “nền tảng của xã hội”

Bi mtuôm wăt blŭ hrăm 21/10/2026 – Ama Mil Čhil Lêô XIV: Găp djuê sang jing “phŭn gơ̆ng kơ yang ƀuôn”

Trong bài giáo lý tại buổi Tiếp kiến chung sáng thứ Tư ngày 21/10/2026, suy tư về giáo huấn của Hiến chế “Gaudium et Spes” về cộng đồng hôn nhân và gia đình, Đức Thánh Cha Lêô XIV nêu bật chức năng xã hội của gia đình—được mô tả là “trường học nhân bản phong phú hơn” và là “nền tảng của xã hội”, đồng thời nhắc nhở tất cả những người có trách nhiệm trong xã hội, đặc biệt trong lĩnh vực chính trị và văn hóa, về bổn phận phải “cộng tác hữu hiệu trong việc thăng tiến hôn nhân và gia đình”.

Hlăm klei mtô êlan klei đăo ti mmông Bi mtuôm wăt blŭ hrăm aguah knăm pă hruê 21/10/2026, hlăk kwưh bi mĭn kơ klei mtô mblang mơ̆ng Hră Mphŭn Mtrŭn “Gaudium et Spes” kơ êpul gơ̆ng bi dôk ung mô̆ leh anăn găp djuê, Ama Mil Čhil Lêô XIV bi êdah kdlưn hnơ̆ng bruă yang ƀuôn mơ̆ng găp djuê—mâo lač mdah jing “sang hră mtô knhuah jing mnuih êbeh dlai hĭn” leh anăn jing “phŭn gơ̆ng kơ yang ƀuôn”, mđrăm hŏng anăn êñă mtă kơ jih jang phung mâo bruă rơ̆ng hlăm yang ƀuôn, boh nik hlăm anôk bruă kđi čar leh anăn dhar kreh, kơ bruă čuăn bi “mguôp bruă mâo boh tŭ yuôm čiăng bi kyar đĭ klei bi dôk ung mô̆ leh anăn găp djuê”.

Trước khi Đức Thánh Cha bắt đầu bài giáo lý, cộng đoàn nghe đoạn thư Thánh Phaolô gửi tín hữu Êphêxô (5,31-33):

Êlâo kơ Ama Mil Čhil kčưm mphŭn klei mtô êlan klei đăo, êpul hgŭm hmư̆ kdrê̆č Hră Pô Kpă Pôl Bĭng kna m’ĭt kơ phung mnuih đăo Êphêsô (5,31-33):

Sách Thánh có lời chép rằng: Chính vì thế, người đàn ông sẽ lìa cha mẹ mà gắn bó với vợ mình, và cả hai sẽ thành một xương một thịt. Mầu nhiệm này thật là cao cả. Tôi muốn nói về Đức Kitô và Hội Thánh. Vậy mỗi người trong anh em hãy yêu vợ như chính mình, còn vợ thì hãy kính sợ chồng.

Hdruôm Hră Kpă mâo asăp čih sơnei: Kyua anăn yơh, mnuih êkei srăng ktlah hĕ amĭ ama čiăng lir mguôp hŏng mô̆ ñu, leh anăn diñu dua srăng mbliư̆ jing sa klang sa čĭm. Klei Myang Hgăm anei sĭt nik prŏng yuôm êdi. Kâo čiăng blŭ kơ Khua Krist leh anăn Êpul Kpă. Sơnăn grăp čô hlăm diih bhiăn khăp kơ mô̆ pô msĕ si kơ asei pô, bi mô̆ lĕ bhiăn huĭ mpŭ kơ ung.

Bài giáo lý của Đức Thánh Cha

Anh chị em thân mến, chào anh chị em và chào mừng anh chị em!

Klei mtô êlan klei đăo mơ̆ng Ama Mil Čhil

Ơ ayŏng amai adei khăp êdimi, alum kkuh kơ diih leh anăn drông m’ak kơ diih!

Sau khi trình bày, trong phần thứ nhất, về phẩm giá con người và ơn gọi của con người trong thế giới, Hiến chế mục vụ Vui mừng và Hy vọng (Gaudium et spes) của Công đồng Vaticanô II đã dành phần thứ hai để xem xét một số vấn đề cấp bách nhất của thời đại, “dưới ánh sáng Tin Mừng và kinh nghiệm nhân loại” (x. GS, 46). Trước hết, văn kiện tập trung vào hôn nhân và gia đình, với xác tín rằng “hạnh phúc của con người cũng như của xã hội nhân loại và Kitô giáo có liên hệ mật thiết với tình trạng tốt đẹp của cộng đồng hôn nhân và gia đình” (GS, 47).

Leh hưn mdah, hlăm kdrê̆č tal sa, kơ knhuah yuôm mnuih leh anăn klei iêo jak kơ mnuih hlăm lăn ala, Hră Mphŭn Mtrŭn Mgăt Mngăt Klei Hơ̆k M’ak leh anăn Čang Hmang (Gaudium et spes) mơ̆ng Klei Kƀĭn Knơ̆ng Vatican II lui pioh kdrê̆č tal dua čiăng ksiêm dlăng dŭm mta klei pral hmăr hĭn kơ ênuk gưl tal anei, “ti gŭ boh mngač Klei Mrâo Mrang Jăk leh anăn klei tuôm găn djuê mnuih” (dl. GS, 46). Êlâo hĭn, hră čih anei mđing bi nik kơ klei bi dôk ung mô̆ leh anăn găp djuê, hŏng klei đăo kjăp sơnei “klei jăk m’ak mơ̆ng mnuih ăt msĕ mơh mơ̆ng yang ƀuôn djuê mnuih wăt Đăo Krist mâo klei mjĕ mjuk lir mguôp sŭk suôr hŏng knhuah jăk siam mơ̆ng êpul gơ̆ng bi dôk ung mô̆ leh anăn găp djuê” (GS, 47).

Sự chung thuỷ trọn vẹn và bất khả phân ly

Với mục đích đó, Công đồng không chỉ tái khẳng định các giá trị và mục đích của hôn nhân, mà còn đề xuất một quan niệm mới mẻ về hôn nhân như là “mối quan hệ mật thiết của đời sống hôn nhân và tình yêu vợ chồng” (GS, 48). Bổ sung cho chiều kích pháp lý của hôn nhân như một khế ước, Công đồng nhìn nhận nền tảng của sự kết hợp này là “giao ước hôn nhân”, được hiểu là “hành vi nhân linh, qua đó vợ chồng tự hiến cho nhau và đón nhận nhau” (ibid.).

Klei sŭk suôr ênŭm kluôm leh anăn amâo tuôm dưi bi ktlah

Hŏng klei kñăm anăn, Klei Kƀĭn Knơ̆ng amâo djŏ knŏng lŏ bi mklă kñăm wăt ênoh yuôm leh anăn klei kñăm mơ̆ng klei bi dôk ung mô̆ ôh, ƀiădah adôk kčě hưn sa klei mĭn mrâo mrang kơ klei bi dôk ung mô̆ msĕ si jing “klei mjĕ mguôp suôr tliêr mơ̆ng klei hdĭp bi dôk ung mô̆ leh anăn klei khăp ung mô̆” (GS, 48). Bi mbŏ thiăm kơ klei mta klei djŏ bhiăn mơ̆ng klei bi dôk ung mô̆ msĕ si sa klei kuôl rơ̆ng, Klei Kƀĭn Knơ̆ng ƀuh kral phŭn gơ̆ng kơ klei bi mguôp anei jing “klei kuôl mguôp ung mô̆”, dưi săng jing “bruă ngă mơ̆ng mngăt myang mnuih, găn hŏng anăn ung mô̆ čŏng myơr pô kơ hdăng leh anăn jum tŭ hdăng” (ibid.).

Sự hiến trao cho nhau giữa người nam và người nữ, nhờ đó “họ không còn là hai, nhưng chỉ là một xương một thịt” (Mt 19,6), làm nổi bật đòi hỏi về “lòng chung thủy trọn vẹn” và “sự hợp nhất bất khả phân ly” của đôi vợ chồng. Sự hiến trao ấy được thể hiện cách sống động qua việc sinh sản và giáo dục con cái (x. GS, 48). Là phản chiếu của mầu nhiệm Ba Ngôi Thiên Chúa, tình yêu vợ chồng và tình yêu cha mẹ, nhờ Bí tích Hôn phối, được “nâng đỡ và phong phú hóa nhờ sức mạnh cứu chuộc của Đức Kitô”, để vợ chồng có thể yêu thương nhau “như chính Người đã yêu thương Hội Thánh và hiến mình vì Hội Thánh” (ibid.).

Klei čŏng jao myơr kơ hdăng plah wah mnuih êkei leh anăn mnuih mniê, kyua mỡng anăn “diñu amâo lŏ jing dua ôh, ƀiădah knŏng sa klang sa čĭm đuč” (Mt 19,6), ngă bi êdah kdlưn klei čoh čuăn kơ “ai tiê sŭk suôr ênŭm kluôm” leh anăn “klei mguôp jing sa amâo tuôm dưi bi ktlah” mơ̆ng kruôp ung mô̆. Klei čŏng jao myơr anăn mâo bi êdah mdih hdĭp găn hŏng bruă bă kkiêng leh anăn mtô mjuăt anak aneh (dl. GS, 48). Jing klei lŏ mdah wĭt mơ̆ng klei myang hgăm Aê Diê Sa Mâo Jing Tlâo, klei khăp ung mô̆ leh anăn klei khăp amĭ ama, kyua mỡng Gru Myang Klei Bi Kuôl Ung Mô̆, mâo “đru krơ̆ng leh anăn ngă bi kyar đĭ kyua ai ktang bi mtlaih mơ̆ng Khua Krist”, čiăng kơ ung mô̆ dưi bi khăp h’iêng hdăng “msĕ si Pô leh khăp kơ Êpul Kpă leh anăn săn myơr asei pô kyua Êpul Kpă” (ibid.).

Sinh sản và giáo dục con cái

Sau khi soi sáng thực tại hôn nhân dưới ánh sáng tình yêu Đức Kitô, Đấng là chân lý của tình yêu nhân loại và thần linh, Gaudium et spes hướng sự chú ý đến tình yêu vợ chồng và khả năng sinh hoa kết quả của hôn nhân. Tình yêu vợ chồng không chỉ giới hạn ở sức hấp dẫn tính dục, dù vẫn bao hàm chiều kích này, nhưng còn liên quan đến toàn thể ý chí của đôi vợ chồng, khơi dậy những tình cảm sâu kín trong tâm hồn và biểu lộ qua những tâm tình cũng như cử chỉ âu yếm (x. GS, 49).

Bă kkiêng leh anăn mtô mjuăt anak aneh

Leh mtrang mngač klei mâo sĭt mơ̆ng klei bi dôk ung mô̆ ti gŭ boh mngač klei khăp Khua Krist, Pô jing klei sĭt nik mơ̆ng klei khăp djuê mnuih wăt klei myang, Gaudium et spes bi anăp klei mđing truh kơ klei khăp ung mô̆ leh anăn hnơ̆ng dưi bi mâo boh mnga mơ̆ng klei bi dôk ung mô̆. Klei khăp ung mô̆ amâo djŏ knŏng mâo kdriêl ti ai bi čhuk mơ̆ng klei mjĕ mgiăm knhông ôh, khă dah ăt čuăl jum kdrê̆č anei mơh, ƀiădah adôk sô̆ truh kơ jih kluôm ai čiăng mơ̆ng kruôp ung mô̆, põk phai đơ klei khăp čiăng êlam lĭn hlăm ai tiê leh anăn bi êdah găn hŏng đơ ai mĭn ăt msĕ si knhuah thâo h’uôn (dl. GS, 49).

Tình yêu ấy bao hàm thiện ích của toàn thể con người, cả nam lẫn nữ, vốn bình đẳng về phẩm giá; đồng thời thấm nhập toàn bộ đời sống vợ chồng và được thể hiện qua những hành vi riêng biệt của đời sống hôn nhân (x. ibid.). Khi diễn tả tình yêu trọn vẹn giữa hai ngôi vị, sự thân mật đặc biệt của đôi vợ chồng tạo điều kiện thuận lợi cho việc hiến trao cho nhau và làm gia tăng niềm vui chung của họ (x. ibid.).

Klei khăp anăn čuăl jum klei tŭ dưn jăk siam mơ̆ng kluôm mnuih, wăt êkei wăt mniê, mtăp mđơr kơ knhuah yuôm; mđrăm hŏng anăn kma hram kluôm dhuôm klei hdĭp ung mô̆ leh anăn mâo bi êdah găn hŏng đơ knhuah ngă hjăn mdê mơ̆ng klei hdĭp bi dôk ung mô̆ (dl. ibid.). Hlăk lač mdah klei khăp ênŭm kluôm plah wah dua čô sa ai, klei sŭk suôr hjăn mdê mơ̆ng kruôp ung mô̆ mjing brei klei găl êlưih pưih pioh čŏng jao myơr kơ hdăng leh anăn ngă bi kyar đĭ klei hơ̆k m’ak mbit mơ̆ng diñu (dl. ibid.).

Hơn nữa, khả năng sinh hoa kết quả của tình yêu vợ chồng còn được thể hiện qua việc sinh con, “món quà quý giá nhất của hôn nhân” (GS, 50). Khi truyền sinh và giáo dục sự sống con người, một sự sống không bao giờ được phép loại bỏ, đôi vợ chồng trở thành “những cộng tác viên của tình yêu Thiên Chúa, Đấng Tạo Hóa, và như những người diễn giải tình yêu ấy” (ibid.). Được mời gọi đảm nhận trách nhiệm nhân bản và Kitô giáo này, vợ chồng phải để cho một phán đoán đúng đắn hướng dẫn mình trong việc cân nhắc thiện ích của bản thân cũng như của những người con đã sinh ra hoặc sẽ chào đời. Xét cho cùng, chính đôi vợ chồng phải đưa ra phán đoán ấy trước mặt Thiên Chúa. Điều này đòi hỏi lương tâm của họ phải phù hợp với luật Thiên Chúa, được Huấn quyền Hội Thánh giải thích dưới ánh sáng Tin Mừng (x. ibid.).

Hĭn ti anăn, hnơ̆ng dưi bi mâo boh mnga mơ̆ng klei khăp ung mô̆ adôk mâo bi êdah găn hŏng bruă bă anak, “mnơ̆ng brei yuôm bhăn kdlưn hĭn mơ̆ng klei bi dôk ung mô̆” (GS, 50). Hlăk bă kkiêng leh anăn mtô mjuăt klei hdĭp mnuih, sa klei hdĭp amâo tuôm mâo klei dưi lui hĕ ôh, kruôp ung mô̆ mbliư̆ jing “phung mguôp bruă mơ̆ng klei khăp Aê Diê, Pô Hrih Mjing, leh anăn msĕ si phung raih mblang klei khăp anăn” (ibid.). Mâo iêo jak čiăng păn bruă rơ̆ng knhuah jing mnuih leh anăn Đăo Krist anei, ung mô̆ bhiăn lui brei sa klei mtrưm đăo kpă nơ năr atăt ktrâo pô hlăm bruă bi mĭn lăng klei tŭ dưn jăk siam mơ̆ng asei pô ăt msĕ mơh mơ̆ng phung anak leh kkiêng amâo dah srăng kkiêng hriê. Ksiêm kơ knhal tuč, asei kruôp ung mô̆ yơh bhiăn kñăm sĭt klei mtrưm đăo anăn ti anăp Bô̆ Mta Aê Diê. Klei anei čoh čuăn ai tiê kpă ênuah mơ̆ng diñu bhiăn djŏ guôp hŏng klei bhiăn Aê Diê, mâo Klei Dưi Mtô mơ̆ng Êpul Kpă raih mblang ti gŭ boh mngač Klei Mrâo Mrang Jăk (dl. ibid.).

Bảo vệ sự sống

Việc đề cao sự hiệp thông yêu thương và khả năng sinh sản trong hôn nhân dẫn đến việc Công đồng bác bỏ khả năng tồn tại “mâu thuẫn thực sự giữa các quy luật của Thiên Chúa liên quan đến việc truyền sinh và những quy luật liên quan đến tình yêu vợ chồng đích thực” (GS, 51). Trái lại, Công đồng khẳng định rằng khi tìm cách dung hòa tình yêu vợ chồng với việc truyền sinh, cần phải bảo toàn trọn vẹn ý nghĩa của sự trao hiến cho nhau và việc sinh sản con người trong bối cảnh của tình yêu đích thực (ibid.).

Răng mgang klei hdĭp

Bruă myŏng myưl klei mguôp hrăm khăp čiăng leh anăn hnơ̆ng dưi bă kkiêng hlăm klei bi dôk ung mô̆ atăt ba kơ bruă Klei Kƀĭn Knơ̆ng gaih lui hnơ̆ng dưi mâo “klei keh koh sĭt nik plah wah djăp klei bhiăn mơ̆ng Aê Diê sô̆ truh kơ bruă bă kkiêng leh anăn đơ klei bhiăn sô̆ truh kơ klei khăp ung mô̆ sĭt nik” (GS, 51). Plăk wĭt nao, Klei Kƀĭn Knơ̆ng kñăm sĭt sơnei hlăk duah êlan mguôp hdăng klei khăp ung mô̆ hŏng bruă bă kkiêng, čiăng bi pioh mgang ênŭm kluôm klei čiăng lač mơ̆ng klei čŏng jao myơr kơ hdăng leh anăn bruă bă kkiêng mnuih hlăm ênhiang mơ̆ng klei khăp sĭt nik (ibid.).

Từ đó, có hai hệ luận: một mặt, “sự sống, một khi đã được thụ thai, phải được bảo vệ hết sức cẩn trọng”, đồng thời phải tránh “việc phá thai cũng như giết trẻ sơ sinh”; mặt khác, “những hành vi đặc thù của đời sống hôn nhân, được thực hiện phù hợp với phẩm giá đích thực của con người, phải được trân trọng hết mực” (ibid.).

Mơ̆ng anăn, mâo dua boh tŭ: sa nah, “klei hdĭp, sa blư̆ leh mâo dơ̆ng tian, bhiăn mâo răng mgang jih ai tiê kiêr ơĭt”, mđrăm hŏng anăn bhiăn bi kbưi “bruă mplě klei soh ăt msĕ mơh mdjiê hđeh ĩ”; sa nah mkăn, “đơ knhuah ngă hjăn mdê mơ̆ng klei hdĭp bi dôk ung mô̆, mâo ngă bi sĭt djŏ guôp hŏng knhuah yuôm sĭt nik mơ̆ng mnuih, bhiăn mâo mpŭ myuôm jih hnơ̆ng” (ibid.).

Vai trò xã hội của gia đình

Như vậy, giáo huấn của Gaudium et spes về cộng đồng hôn nhân và gia đình còn làm nổi bật vai trò xã hội của gia đình, được định nghĩa là “trường học nhân bản phong phú hơn” và là “nền tảng của xã hội” (GS, 52). Văn kiện đồng thời nhắc nhở tất cả những người có trách nhiệm trong đời sống xã hội, đặc biệt trong lĩnh vực chính trị và văn hóa, về bổn phận “cộng tác cách hữu hiệu để thăng tiến hôn nhân và gia đình” (ibid.).

Gơ̆ng atŭt yang ƀuôn mơ̆ng găp djuê

Snăn yơh, klei mtô mblang mơ̆ng Gaudium et spes kơ êpul gơ̆ng bi dôk ung mô̆ leh anăn găp djuê adôk ngă bi êdah kdlưn gơ̆ng atŭt yang ƀuôn mơ̆ng găp djuê, mâo bi mklă jing “sang hră mtô knhuah jing mnuih êbeh dlai hĭn” leh anăn jing “phŭn gơ̆ng kơ yang ƀuôn” (GS, 52). Hră čih mđrăm hŏng anăn êñă mtă kơ jih jang phung mâo bruă rơ̆ng hlăm klei hdĭp yang ƀuôn, boh nik hlăm anôk bruă kđi čar leh anăn dhar kreh, kơ bruă čuăn “mguôp bruă sa hdră mâo boh tŭ yuôm čiăng bi kyar đĭ klei bi dôk ung mô̆ leh anăn găp djuê” (ibid.).

Anh chị em rất thân mến, ngày nay, dấn thân này càng trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Hội Thánh ý thức rõ điều đó, như được chứng minh qua sự quan tâm mục vụ của các vị Giáo hoàng kế nhiệm nhau kể từ Công đồng Vaticanô II, cho đến hai kỳ Đại hội Thượng Hội đồng do Đức Giáo hoàng Phanxicô triệu tập. Trong những ngày vừa qua, các vị đứng đầu các Giáo hội Công giáo Đông phương và các Chủ tịch Hội đồng Giám mục đã trở lại suy tư về tiến trình này. Xin Thánh Gia Nadarét soi sáng hành trình của chúng ta và gìn giữ các gia đình trên toàn thế giới.

Ơ ayŏng amai adei khăp êdimi snăk, ară anei, bruă ba asei dấn thân anei ƀrư̆ mbliư̆ jing jê̆č êmê̆č hĭn kơ êlâo adih. Êpul Kpă săng klă klei anăn, msĕ si mâo bi mklă găn hŏng klei mĭn uên mgăt mngăt mơ̆ng phung Ama Mil Čhil lŏ čuê hdăng dơ̆ng mơ̆ng Klei Kƀĭn Knơ̆ng Vatican II, truh kơ dua tal Klei Kƀĭn Hgŭm Knơ̆ng Ama Prong kyua Ama Mil Čhil Phanxicô iêo kƀĭn. Hlăm dŭm hruê leh êgao, phung khua păn kŏ đơ Êpul Kpă Công Giáo Ngŏ leh anăn phung Pô Gơ̆ng Epul Knơ̆ng phung Ama Prong leh lŏ wĭt kwưh bi mĭn kơ klei kyar đĭ anei. Akâo kơ Boh Gõ Kpă Nadarêt mtrang mngač êlan êbat drei leh anăn răng kriê grăp găp djuê sang ti tar lăn ala.

Sau khi chào các tín hữu thuộc các nhóm ngôn ngữ khác nhau, Đức Thánh Cha cùng cộng đoàn hát Kinh Lạy Cha bằng tiếng Latinh.

Buổi Tiếp kiến chung kết thúc với phép lành Đức Thánh Cha ban cho mọi người.

Leh kkuh kơ phung mnuih đăo tăng kơ đơ êpul klei blŭ mdê mdô, Ama Mil Čhil mbit hŏng êpul hgŭm mmuñ Klei Kwưh Ơ Ama Hmei Dôk Ti Adiê hŏng klei Latinh.

Mmông Bi mtuôm wăt blŭ hrăm bi ruê̆ hŏng klei hmưi jăk Ama Mil Čhil brei kơ jih jang mnuih.

Nguồn/Anôk phun: Vatican News